Hotline: +84 909 393 329
+84 903 693 301

Lĩnh vực hoạt động

DOANH NGHIỆP THEO QUY ĐỊNH LUẬT DOANH NGHIỆP 2014

Cập nhật: 14/02/2020 15:43

Theo khoản 4 Điều 7 Luật doanh nghiệp năm 2014 (sau đây gọi tắt là Luật DN):  “Doanh nghiệp(1) tổ chức có tên riêng, (2) có tài sản, (3) có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh.”. Quy định này được phân tích cụ thể hơn như sau:

 

1. Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng

Theo quy định tại Điều 38 Luật DN, tên tiếng Việt của doanh nghiệp sẽ bao gồm hai thành tố theo thứ tự: Loại hình doanh nghiệp + Tên riêng. Cần lưu ý đây là hai thành tố bắt buộc phải có trong doanh nghiệp, tuy nhiên trong thực tế tên doanh nghiệp có thể còn bao gồm các thành phần khác, thông thường là chức năng hoạt động như: “Sản xuất”, “Thương mại”, “Dịch vụ”, “Đầu tư”,… Ví dụ: Công ty TNHH sản xuất thương mại dịch vụ Phú Cường Thịnh

 

Về mặt nguyên tắc tên doanh nghiệp do những người sáng lập doanh nghiệp tự đặt, tuy nhiên cần đáp ứng các điều kiện khác như phân tích dưới đây thì mới được chấp nhận.

 

Thứ nhất là, tên doanh nghiệp không được trùng hoặc gây nhầm lẫn với tên doanh nghiệp khác. Theo quy định tại Điều 42, Luật doanh nghiệp năm 2014 thì tên trùng, tên gây nhầm lẫn được quy định như sau:

- Tên trùng là tên tiếng Việt của doanh nghiệp đề nghị đăng ký được viết hoàn toàn giống với tên tiếng Việt của doanh nghiệp đã đăng ký.

- Tên gây nhầm lẫn với tên của doanh nghiệp đã đăng ký là:

+ Tên tiếng Việt của doanh nghiệp đề nghị đăng ký được đọc giống như tên doanh nghiệp đã đăng ký;

+ Tên viết tắt của doanh nghiệp đề nghị đăng ký trùng với tên viết tắt của doanh nghiệp đã đăng ký;

+ Tên bằng tiếng nước ngoài của doanh nghiệp đề nghị đăng ký trùng với tên bằng tiếng nước ngoài của doanh nghiệp đã đăng ký;

+ Tên riêng của doanh nghiệp đề nghị đăng ký chỉ khác với tên riêng của doanh nghiệp cùng loại đã đăng ký bởi một số tự nhiên, số thứ tự hoặc các chữ cái trong bảng chữ cái tiếng Việt và các chữ cái F, J, Z, W ngay sau tên riêng của doanh nghiệp đó;

+ Tên riêng của doanh nghiệp đề nghị đăng ký chỉ khác với tên riêng của doanh nghiệp cùng loại đã đăng ký bởi ký hiệu “&”, “.”, “+”, “-”, “_”;

+ Tên riêng của doanh nghiệp đề nghị đăng ký chỉ khác với tên riêng của doanh nghiệp cùng loại đã đăng ký bởi từ “tân” ngay trước hoặc “mới” ngay sau hoặc trước tên riêng của doanh nghiệp đã đăng ký;

+ Tên riêng của doanh nghiệp đề nghị đăng ký chỉ khác với tên riêng của doanh nghiệp cùng loại đã đăng ký bởi từ “miền Bắc”, “miền Nam”, “miền Trung”, “miền Tây”, “miền Đông” hoặc từ có ý nghĩa tương tự.

 

Thứ hai là, không sử dụng từ ngữ, ký hiệu vi phạm truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức và thuần phong mỹ tục. Vấn đề này có thể tham khảo quy định tại Điều 2 Thông tư số 10/2014/TT-BVHTTDL. Ví dụ tên riêng của doanh nghiệp không trùng với tên của danh nhân.

 

Thứ ba là, không sử dụng tên cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, tên của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp để làm toàn bộ hoặc một phần tên riêng của doanh nghiệp, trừ trường hợp có sự chấp thuận của cơ quan, đơn vị hoặc tổ chức đó.

 

2. Doanh nghiệp có tài sản

Tài sản của doanh nghiệp được hình thành dựa trên ba nguồn: (1) Tài sản do các thành viên, cổ đông đầu tư vào doanh nghiệp; (2) Tài sản do doanh nghiệp huy động; và  (3) Tài sản do doanh nghiệp tạo lập trong quá trình hoạt động như chênh lệch giữa mệnh giá và thị giá trong quá trình phát hành cổ phần, lợi nhuận giữ lại để tái đầu tư. Như vậy, tại thời điểm thành lập doanh nghiệp, tài sản của doanh nghiệp là vốn góp của các nhà đầu tư, gọi là Vốn điều lệ của doanh nghiệp.

 

 

3. Doanh nghiệp có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh

Theo Điều 43 Luật DN, trụ sở chính của doanh nghiệp là địa điểm liên lạc của doanh nghiệp trên lãnh thổ Việt Nam, có địa chỉ được xác định gồm số nhà, ngách, hẻm, ngõ phố, phố, đường hoặc thôn, xóm, ấp, xã, phường, thị trấn, huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; số điện thoại, số fax và thư điện tử (nếu có).

Mục đích kinh doanh được hiểu là mục đích tìm kiếm lợi nhuận hợp pháp của doanh nghiệp. Chính mục đích này là yếu tố căn bản để phân biệt doanh nghiệp với các tổ chức khác. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng Luật DN 2014 còn đề cập loại hình Doanh nghiệp xã hội, trong đó doanh nghiệp này ngoài mục tiêu lợi nhuận còn phải đáp ứng các mục tiêu mang tính xã hội (Điều 10 Luật DN). Ví dụ: Công ty TNHH doanh nghiệp xã hội TIMS.

 

Lưu ý: Nội dung bài viết được đăng tải nhằm mục đích tuyên truyền pháp luật và để tham khảo, vấn đề cụ thể của Quý độc giả cần liên hệ với người có chuyên môn, luật sư trong lĩnh vực doanh nghiệp.
partner GSsis partner GSsis partner GSsis partner GSsis